Phế liệu, phế phẩm kim loại không được miễn thuế xuất khẩu

(HQ Online) – Xuất phát từ nhu cầu quản lý và kiểm soát đối với phế liệu, phế phẩm kim loại, Bộ Tài chính đã có hướng dẫn về chính sách thuế đối với phế liệu, phế phẩm kim loại để gia công. Cùng với đó, Tổng cục Hải quan cũng đã hướng dẫn cụ thể về thời hạn nộp thuế với mặt hàng này.

Không được miễn thuế xuất khẩu

Thời gian qua, trong quá trình triển khai thực hiện Nghị định số 134/2016/NĐ-CP ngày 1/9/2016 của Chính phủ, một số Cục Hải quan tỉnh, thành phố và doanh nghiệp đã có phản ánh vướng mắc liên quan đến chính sách thuế đối với hàng hóa xuất khẩu để gia công. Cụ thể, một số doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu mặt hàng vỏ lon nhôm, thép phế liệu và đồng phế liệu (phế liệu, phế phẩm kim loại) để gia công kiến nghị, theo quy định tại khoản 6 Điều 16 Luật Thuế XK, thuế NK số 107/2016/QH13 thì doanh nghiệp được miễn thuế xuất khẩu và khi nhập khẩu sản phẩm gia công về Việt Nam được miễn thuế nhập khẩu tính trên phần trị giá của nguyên vật liệu xuất khẩu cấu thành sản phẩm gia công.

Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 11 Nghị định số 134/2016/NĐ-CP thì phế liệu, phế phẩm kim loại xuất khẩu để gia công không được miễn thuế xuất khẩu do phế liệu, phế phẩm kim loại thuộc đối tượng chịu thuế và có mức thuế suất thuế xuất khẩu từ 15-22%. Các doanh nghiệp cho rằng việc thu thuế xuất khẩu đối với phế liệu, phế phẩm kim loại xuất khẩu để gia công là chưa phù hợp và đang gây ảnh hưởng đến hoạt động của các doanh nghiệp, vì vậy các doanh nghiệp đề nghị làm rõ nội dung hướng dẫn tại khoản 1 Điều 11 Nghị định số 134/2016/NĐ-CP.

Trên cơ sở vướng mắc của các doanh nghiệp, Bộ Tài chính đã tiến hành các chuyên đề thanh tra, kiểm tra hoạt động xuất khẩu phế liệu, phế phẩm kim loại ra nước ngoài để gia công, bước đầu phát hiện tình trạng một số doanh nghiệp lợi dụng chính sách ưu đãi về thuế xuất khẩu, nhập khẩu đối với loại hình này, tập trung vào nhóm hàng phế liệu, phế phẩm kim loại bao gồm: Nhôm phế liệu, thép phế liệu và đồng phế liệu.

Kết quả thanh tra, kiểm tra cho thấy việc gia công phế liệu, phế phẩm kim loại ở nước ngoài theo các hợp đồng của doanh nghiệp là đơn giản, không đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật và trình độ cao, trong nước có thể thực hiện được. Về bản chất đây là hoạt động mua bán hàng hóa thông thường, bán nguyên liệu là phế liệu, phế phẩm kim loại cho nước ngoài dưới hình thức thuê gia công và mua lại thành phẩm là kim loại thành phẩm được chế biến giản đơn, doanh nghiệp tránh được việc phải nộp thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu. Ngoài ra, Bộ Tài chính đã phát hiện tình trạng gian lận của một số doanh nghiệp đối với loại hình xuất khẩu để gia công qua các hình thức: Gian lận về số lượng, chủng loại nguyên vật liệu đã và đang xuất khẩu đặt gia công ở nước ngoài, giả mạo hồ sơ đặt gia công ở nước ngoài nhưng thực tế không có hoạt động gia công ở nước ngoài.

Trước thực tế trên, nhận thấy việc quản lý, kiểm soát hoạt động xuất khẩu phế liệu, phế phẩm kim loại là hết sức cần thiết, đặc biệt, trong bối cảnh Việt Nam đang phải nhập khẩu một lượng lớn phế liệu kim loại để phục vụ nhu cầu sản xuất trong nước, đồng thời để xử lý kiến nghị của các doanh nghiệp nêu trên, Bộ Tài chính đã có công văn lấy ý kiến các bộ, ngành có liên quan về chính sách thuế đối với hàng hóa xuất khẩu để gia công. Theo đó, các bộ, ngành đều thống nhất cần tăng cường quản lý nhà nước, kiểm soát hoạt động xuất khẩu phế liệu, phế phẩm kim loại nhằm hạn chế gian lận thương mại.

Trên cơ sở tổng hợp ý kiến của các bộ, ngành, xuất phát từ nhu cầu quản lý và kiểm soát đối với phế liệu, phế phẩm kim loại, Bộ Tài chính đã có công văn 11081/BTC-TCHQ hướng dẫn: Doanh nghiệp xuất khẩu phế liệu, phế phẩm kim loại để gia công, thực hiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 11 Nghị định số 134/2016/NĐ-CP, theo đó phế liệu, phế phẩm kim loại thuộc đối tượng chịu thuế xuất khẩu thì không được miễn thuế xuất khẩu.

Điều kiện gia hạn nộp thuế trong thời hạn 12 tháng

Nội dung hướng dẫn trên đã được Tổng cục Hải quan trả lời Tổng lãnh sự quán Hàn Quốc tại TP HCM và Công ty TNHH Ian Precision Việt Nam, đồng thời trả lời về đề nghị gia hạn nộp thuế trong thời hạn 12 tháng, Tổng cục Hải quan phân tích: Theo quy định tại Khoản 25 Điều 1 Luật Quản lý thuế số 21/2012/QH13 thì “Chưa thực hiện biện pháp cưỡng chế thuế đối với những trường hợp người nộp thuế được cơ quan quản lý thuế cho phép nộp dần tiền nợ thuế trong thời hạn không quá 12 tháng kể từ ngày bắt đầu của thời hạn cưỡng chế thuế. Việc nộp dần tiền nợ thuế được xem xét trên cơ sở đề nghị của người nộp thuế và phải có bảo lãnh của tổ chức tín dụng. Người nộp thuế phải nộp tiền chậm nộp theo mức 0,5%/ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp”.

Bên cạnh đó, căn cứ quy định tại Điều 39 Nghị định 83/2013/NĐ-CP và khoản 3 Điều 3 Nghị định 100/2016/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 2 Điều 39 Nghị định 83/2013/NĐ-CP) và quy định tại Điều 134 Thông tư 38/2015/TT-BTC được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 67 Điều 1 Thông tư 39/2018/TT-BTC.

Với những quy định trên, Tổng cục Hải quan hướng dẫn, trường hợp người nộp thuế bị áp dụng biện pháp cưỡng chế nhưng không có khả năng nộp đủ tiền nợ trong 1 lần thì được nộp dần tiền thuế nợ trong thời hạn không quá 12 tháng kể từ ngày bắt đầu của thời hạn cưỡng chế thuế nếu có bảo lãnh và đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 3 Điều 3 Nghị định 100/2016/NĐ-CP và Khoản 67 Điều 1 Thông tư 39/2018/TT-BTC.Thu Trang


Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *